Dưỡng ở cung Huynh Đệ trong Vòng Tràng Sinh
Luận Dưỡng tại cung Huynh Đệ trong Vòng Tràng Sinh bằng lời dễ hiểu: biểu hiện thực tế, mặt thuận, điểm khó, phối sao và cách ứng xử.
Bản chất khi đóng tại cung Huynh Đệ
Dưỡng là chặng nuôi, chăm và tạo điều kiện cho cái non lớn lên của mười hai bước trong Vòng Tràng Sinh. Dưỡng ở Huynh Đệ làm anh em có người hay chăm, đỡ hoặc gánh nhà. Cần chia lại để người chăm không kiệt và người được chăm biết tự chịu. Dưỡng thiên về nuôi bền hơn là bứt nhanh. Cát khi có người chăm đúng cách, khó khi chăm thành bao bọc và phụ thuộc.
Muốn kiểm chứng tại cung Huynh Đệ, hãy nhìn chia trách nhiệm với anh em, tiền chung và tài sản gia đình, so bì và khoảng cách, chăm sóc cha mẹ. Một tên trạng thái không đủ kết luận; phải xem biểu hiện có lặp và có được chính tinh thủ cung xác nhận hay không.
Mặt thuận và điểm khó
Mặt thuận của Dưỡng tại Huynh Đệ là sự chăm sóc, kiên nhẫn, phúc nuôi dưỡng và khả năng làm nền cho người khác. Nó phát đẹp nhất khi việc thuộc cung này có nền rõ, người trong cuộc biết rõ ràng chuyện tiền bạc, trách nhiệm và tránh để so sánh lâu ngày làm mất tình thân.
Điểm khó là ỷ lại, chiều quá, chậm tự lập hoặc gánh thay quá nhiều. Nếu chính tinh hãm hoặc hội nhiều sát Kỵ, mặt khó sẽ lộ qua chia trách nhiệm với anh em, tiền chung và tài sản gia đình; lúc đó cần giảm nhịp và xử lý việc thật thay vì chỉ lo tên sao.
Ứng vào thực tế và cách phối sao
Vật chất nằm ở tài sản gia đình, tiền chung, khoản vay và trách nhiệm chăm người thân. Hợp tác giữa anh em cũng cần giấy tờ để sau này còn giữ tình. Tình anh em bền khi không biến sự hy sinh thành món nợ và không kéo người phối ngẫu vào mọi mâu thuẫn. Việc chung cần nói trực tiếp với nhau.
Vòng Tràng Sinh không có một bảng miếu, vượng theo tên cung chức năng giống chính tinh. Muốn xét mạnh yếu phải biết địa chi an vòng, ngũ hành cục, chính tinh thủ cung và các sao hội chiếu. Tràng Sinh, Lâm Quan, Đế Vượng thường mang khí phát; Suy, Bệnh, Tử, Tuyệt mang khí giảm hoặc khép; Mộ thiên cất giữ, Thai và Dưỡng thiên ươm nuôi. Cung Huynh Đệ nên đối chiếu thêm với Phụ Mẫu, Phúc Đức và Điền Trạch. Tuần Triệt có thể làm chặng khí đến chậm, bị ngắt hoặc biểu hiện theo đường vòng; cát tinh nâng mặt thuận, sát Kỵ làm điểm khó rõ hơn.