Tử ở cung Thiên Di trong Vòng Tràng Sinh
Luận Tử tại cung Thiên Di trong Vòng Tràng Sinh bằng lời dễ hiểu: biểu hiện thực tế, mặt thuận, điểm khó, phối sao và cách ứng xử.
Bản chất khi đóng tại cung Thiên Di
Tử là chặng khép một chu kỳ và dừng phần đã hết của mười hai bước trong Vòng Tràng Sinh. Tử ở Thiên Di làm môi trường ngoài ít sinh cơ hoặc một chuyến đi nhằm khép việc. Hợp hoàn tất, thu hồi, rút khỏi nơi không còn hợp. Tử là chặng khí khép lại, không mang nghĩa chết chóc theo nghĩa đen khi đứng một mình trong lá số.
Muốn kiểm chứng tại cung Thiên Di, hãy nhìn đi xa và đổi môi trường, gặp khách hàng, người lạ, giữ hình ảnh ngoài xã hội, nhận lời mời và cơ hội mới. Một tên trạng thái không đủ kết luận; phải xem biểu hiện có lặp và có được chính tinh thủ cung xác nhận hay không.
Mặt thuận và điểm khó
Mặt thuận của Tử tại Thiên Di là biết kết thúc đúng lúc, bỏ việc vô ích và giữ sự tỉnh táo. Nó phát đẹp nhất khi việc thuộc cung này có nền rõ, người trong cuộc biết chuẩn bị kỹ trước khi đi xa, giữ hình ảnh nhất quán và tận dụng cơ hội nhưng không chủ quan.
Điểm khó là lạnh, ít sinh khí, trì trệ hoặc giữ trạng thái đã không còn phát triển. Nếu chính tinh hãm hoặc hội nhiều sát Kỵ, mặt khó sẽ lộ qua đi xa và đổi môi trường, gặp khách hàng, người lạ; lúc đó cần giảm nhịp và xử lý việc thật thay vì chỉ lo tên sao.
Ứng vào thực tế và cách phối sao
Cơ hội vật chất đến từ khách hàng, thị trường, nơi xa hoặc môi trường mới. Trước khi nhận lời cần rõ chi phí, giấy tờ, người chịu trách nhiệm và đường lui. Ngoài xã hội, ấn tượng ban đầu chỉ là cửa mở. Quan hệ bền hay không còn nằm ở việc giữ lời, đúng hẹn và không để lợi ích ngắn hạn làm mất danh.
Vòng Tràng Sinh không có một bảng miếu, vượng theo tên cung chức năng giống chính tinh. Muốn xét mạnh yếu phải biết địa chi an vòng, ngũ hành cục, chính tinh thủ cung và các sao hội chiếu. Tràng Sinh, Lâm Quan, Đế Vượng thường mang khí phát; Suy, Bệnh, Tử, Tuyệt mang khí giảm hoặc khép; Mộ thiên cất giữ, Thai và Dưỡng thiên ươm nuôi. Cung Thiên Di nên đối chiếu thêm với Mệnh, Quan Lộc và Nô Bộc. Tuần Triệt có thể làm chặng khí đến chậm, bị ngắt hoặc biểu hiện theo đường vòng; cát tinh nâng mặt thuận, sát Kỵ làm điểm khó rõ hơn.